Nhãn hiệu chưa đăng ký nhưng đang
được sử dụng ở Mỹ được bảo vệ ở cả Common law và Statutory law (bộ luật). Một
đặc điểm khác biệt giữa luật nhãn hiệu của Mỹ so với các nước khác đó là quyền
ưu tiên không được xác lập từ việc đăng ký trước (first-to-file) mà qua sử dụng
trong thực tế (first-to-use). Ngoài ra, nhãn hiệu cho dù đã đăng ký cũng không tự
động có quyền kiện tụng (enforceable right) mà quyền này chỉ được xác lập thông
qua sử dụng. Một chủ nhãn hiệu chưa đăng ký muốn sử dụng quyền này để kiện tụng
thì trước tiên phải chứng minh mình đã xác lập và giữ quyền hợp pháp của nhãn
hiệu qua sử dụng. Một vài yếu tố bắt buộc cần chứng minh (việc sử dụng) là:
bằng chứng ngày sử dụng đầu tiên; người hoặc pháp nhân sử dụng; bằng chứng tính
phân biệt của nhãn hiệu (distinctiveness)[1],
v..v..
- Common law
Theo hệ thống án tiền lệ truyền
thống, người sử dụng nhãn hiệu có thể nhận được quyền bảo vệ nhãn hiệu mà không
cần đăng ký. Người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu có quyền ưu tiên đối với người
đăng ký sau, ít nhất trong phạm vi địa lý mà nhãn hiệu được sử dụng từ trước. Nếu
người đăng ký nhãn hiệu có ngày sử dụng đầu tiên sau ngày sử dụng đầu tiên của người
sử dụng nhãn hiệu tương tự nhưng chưa đăng ký, thì quyền ưu tiên thuộc về người
chưa đăng ký. Tuy nhiên, người sử dụng nhãn hiệu phải chứng minh việc sử dụng
nếu tranh chấp phát sinh.
Tea Rose – Rectanus doctrine:
Học thuyết Tea Rose – Rectanus,
thiết lập trong common law từ hai case nổi tiếng đầu thế kỷ 20[2],
quy định rằng người sử dụng nhãn hiệu
đầu tiên không hẳn có quyền ngăn người sử dụng nhãn hiệu sau, khi vùng địa lý
của nhãn hiệu sau tách biệt (remote) với vùng địa lý của nhãn hiệu đầu. Điểm
chính yếu của học thuyết này là ở một vùng địa lý tách biệt, nơi mà không ai
biết đến nhãn hiệu đầu tiên, thì rất khó xảy ra việc người dùng nhầm lẫn khi
chủ nhãn hiệu thứ hai sử dụng nhãn hiệu của mình. Để áp dụng học thuyết này,
người sử dụng sau phải chứng minh họ sử dụng nhãn hiệu của mình một cách vô tư
(in good faith) trong vùng địa lý tách biệt với vùng địa lý của nhãn hiệu đầu.
Người sử dụng sau không thỏa mãn yếu tố “good faith” nếu họ biết về nhãn hiệu
của người sử dụng đầu mà vẫn cố tình sử dụng nhãn hiệu sau của mình, cho dù là
trong vùng địa lý tách biệt với nhãn hiệu đầu.
- Statutory law
(liên bang)
Ở Mỹ, khác với hệ thống án lệ
truyền thống chỉ chú trọng việc sử dụng nhãn hiệu, bộ luật liên bang gần đây
chuyển dần trọng tâm sang xác lập quyền ưu tiên bằng việc đăng ký nhãn hiệu. Một
trong những lý do của việc thay đổi này là những người nước ngoài đăng ký nhãn
hiệu theo luật liên bang không cần chứng minh việc sử dụng nhãn hiệu ở Mỹ, theo
như quy định của section 44 Lanham Act
1946. Trong khi đó, quyền sử dụng nhãn hiệu của những người trong nước Mỹ chủ
yếu được xác lập dựa vào việc chứng minh nhãn hiệu được sử dụng. Điều này gây
ra bất lợi lớn cho người đăng ký và sử dụng nhãn hiệu trong nước Mỹ[3].
“Constructive use” và “constructive notice”
Section 7 (c)[4]
Lanham Act nói rằng việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ cấu thành “constructive
use”, đồng thời xác lập quyền ưu tiên của nhãn hiệu đó, trên phạm vi cả nước
Mỹ, ngoại trừ trường hợp có một người khác sở hữu nhãn hiệu tương tự được sử
dụng liên tục, và trước khi việc nộp đơn này xảy ra, người đó: 1) đã và đang sử
dụng nhãn hiệu; 2) đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, mà đơn đang đợi duyệt hoặc đã
được cấp văn bằng; 3) đã nộp đơn đăng ký dưới dạng nước ngoài và nhận được
quyền ưu tiên, rồi sau đó nộp đơn đăng ký đúng hạn theo section 1126 (d) 15 USC
mà đơn đang xét duyệt hoặc đã được cấp[5].
Vậy cụm “constructive use” ở đây nghĩa
là gì? Theo luật liên bang nói trên, có thể hiểu rằng việc nộp đơn đăng ký nhãn
hiệu (theo bộ luật liên bang) được xem như việc bắt đầu sử dụng nhãn hiệu (theo
common law). Nói cách khác, ngày nộp đơn (filing date) ở đây được xem như ngày
bắt đầu sử dụng nhãn hiệu, tức cấu thành “constructive use”[6]. Luật
liên bang dùng cụm “constructive use” như một cách ví von (artificial concept)
để giúp cho việc xác đinh quyền ưu tiên dễ dàng hơn.
Ngoài ra, section 22 Lanham Act
bổ sung cho section 7(c) khi xác lập một “constructive notice” kể từ ngày nhãn
hiệu được đăng ký (registration date). Ngày mà “constructive notice” được xác
lập là ngày mà tất cả người sử dụng nhãn hiệu, cho dù sử dụng trước hay sau,
được chính thức thông báo rằng người đăng ký đã nhận được quyền. Lợi ích của
“constructive notice” là thông báo này giúp người đăng ký loại bỏ được yếu tố
“good faith” của người dùng nhãn hiệu theo common law. Vì như ta biết, khi
người sử dụng nhãn hiệu sau hoàn toàn không biết gì về nhãn hiệu trước và sử
dụng nhãn hiệu của mình một cách “vô tư” (good faith) thì người sử dụng nhãn
hiệu trước cũng không thể ngăn được việc sử dụng nhãn hiệu tương tự của người
sử dụng sau. Nhưng với “constructive notice” từ việc đăng ký nhãn hiệu, người
sử dụng sau sẽ không thể chứng minh được việc sử dụng (kể từ ngày đăng ký của
chủ nhãn hiệu) là có “good faith”. Đây là một lợi ích rõ ràng của việc đăng ký
nhãn hiệu theo bộ luật liên bang[7].
“Incontestability” của nhãn hiệu đăng ký
Từ khi ra đời, Lanham Act đã có
quy định cho phép người đăng ký nhãn
hiệu liên bang đạt được một chế độ đặc biệt gọi là “incontestable status” sau 5
năm kể từ ngày đăng ký với điều kiện sử dụng liên tục[8]. Chế độ này loại bỏ quyền phản đối của bên tranh
chấp (nếu có) đối với hiệu lực của nhãn hiệu đăng ký, ví dụ như phản đối rằng nhãn
hiệu đăng ký chỉ thuần túy là mô tả, không sở hữu tính phân biệt, hoặc không có
secondary meaning. Tuy nhiên, chế độ này vẫn chịu một số ngoại lệ. Một nhãn
hiệu đạt được “incontestable status” vẫn có thể bị phản đối trong trường hợp
nhãn hiệu trở thành “generic” qua nhiều năm sử dụng[9],
hoặc nhãn hiệu bị bỏ không sử dụng.
- Staturory law
(tiểu bang)
Các vụ kiện liên quan đến
trademark dựa vào common law được gọi là “trademark claim” ở một số tiểu bang.
Trong khi ở vài bang khác trademark chưa đăng ký nằm dưới “unfair competition”
hoặc “unfair trade practice.”[10]
Nếu nhãn hiệu chỉ sử dụng trong
phạm vi tiểu bang, sẽ thích hợp hơn nếu chủ nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu ở bang
đó, thay vì đăng ký liên bang. Chủ nhãn hiệu chỉ đăng ký nhãn hiệu theo luật
liên bang nếu nhãn hiệu sử dụng trong interstate
commerce. Chủ một nhãn hiệu chưa đăng ký chỉ có thể khởi kiện vi phạm nhãn
hiệu bằng luật liên bang (section 43 (a) Lanham Act) nếu nhãn hiệu đó được sử
dụng trong interstate commerce.
Mặc dù việc đăng ký nhãn hiệu cấp
tiểu bang có phí tổn thấp, ví dụ phí đăng ký ở Illinois là $10[11],
đăng ký nhãn hiệu cấp tiểu bang hầu như không phải là lựa chọn có lợi so với
đăng ký cấp liên bang[12].
Case tranh chấp nhãn hiệu sau có thể là một ví dụ giải thích.
Case: Burger King
Năm 1957, tiệm thức ăn nhanh
Burger King của gia đình Hoots bắt đầu hoạt động và đăng ký nhãn hiệu tiểu bang
Illinois vào năm 1959. Lúc đó, tiệm
của Hoots là Burger King duy nhất trên toàn bang Illinois . Khi đó, thương hiệu Burger King
nổi tiếng hiện nay, bắt nguồn từ Florida,
đã hoạt động được 6 năm (từ 1953). Năm 1958, Burger King Florida nộp đơn đăng
ký nhãn hiệu liên bang và được cấp văn bằng năm 1961. Burger King từ Florida
phát triển nhanh và xâm nhập vào thị trường bang Illinois . Cho đến năm 1967, Burger King
Florida đã mở 50 nhà hàng trên toàn bang Illinois .
Gia đình Hoots bắt đầu đưa vụ việc ra tòa án bang Illinois . Chuỗi Burger King Florida trả lời
bằng một lawsuit liên bang[13].
Cuối cùng vụ kiện lên đến cấp phúc thẩm liên bang (7th Circuit Court
of Appeals). Ở đó, quyết định của tòa này đóng vai trò quan trọng trong việc
diễn giải bộ luật Lanham Act về tranh chấp nhãn hiệu giữa đăng ký liên bang và
tiểu bang.
Trong vụ này, gia đình Hoots là
những người sử dụng đầu tiên nhãn hiệu Burger King ở Illinois và là người đăng
ký nhãn hiệu đầu tiên ở tiểu bang Illinois.
Tòa phán rằng quyền sử dụng nhãn
hiệu của Hoots chỉ giới hạn trong quyền common law từ việc sử dụng trước, trong
phạm vi địa lý mà Burger King của Hoots hoạt động, với bán kính 20 dặm từ thị
trấn Matoon nơi Hoots mở nhà hàng của mình.
Tòa cũng xác định rằng đăng ký
liên bang mạnh hơn đăng ký tiểu bang. Do đó, trong trường hợp này, Hoots không
thể xác định quyền ưu tiên của nhãn hiệu mình cho toàn bang Illinois, ngoại trừ
phạm vi địa lý sử dụng như nêu trên.
Mặc dù Hoots đã sử dụng nhãn hiệu
trước ở Illinois, đăng ký nhãn hiệu tiểu bang gần như là vô giá trị khi so với
đăng ký cấp liên bang của chuỗi Burger King từ Florida.
VL 01-2015
[1]
Lockridge, Lee. (2011), “Abolishing
State Trademark Registration”, Louisiana State
University Law
Center , trang 601.
[2] Hanover Star Milling Co. v. Metcalf, 240
US 403 (1916) (“Tea Rose”
case) và United Drug Co. v. Theodore
Rectanus Co., 248 US
90 (1918).
[3] Jones,
Traci. (1996), “Remedy Holes and Bottomless Rights: A Critique of the
Intent-to-use System of Trademark Registration”, Law and Contemporary Problems,
Vol. 59 No. 2, trang 160.
[4] 15 USC
Section 1057 (c) (1994)
Contingent on the registration of a mark
on the principal register provided by this chapter, the filing of the application
to register such mark shall constitute constructive use of the mark, conferring
a right of priority, nationwide in effect, on or in connection with the goods
or services specified in the registration against any other person except for a
person whose mark has not been abandoned and who, prior to such filing—
[6] Jones
trang 165.
[7]
Lockridge, trang 608.
[8] Xem 15
USC section 1065 (1) – (3): Những yêu cầu cơ bản để hưởng “Incontestable
status” ngoài việc sử dụng liên tục trong 5 năm còn bao gồm: nhãn hiệu không
còn dính đến vụ kiện tụng nào (pending litigation) và không bị quyết định nào
của tòa bất lợi với nhãn hiệu đăng ký.
[9] Ví dụ
như trường hợp thuốc Aspirin đã từng là
nhãn hiệu của một sản phẩm thuốc cảm nổi tiếng, nhưng qua nhiều năm sử dụng đã
trở thành tên gọi chung chỉ thuốc điều trị cảm cúm (generic).
[10]
Lockridge, trang 602-603.
[11]
Wattmire, “Should I File For a State or Federal Trademark Registration?”, 2014,
http://www.waltmire.com/2014/02/11/file-state-federal-trademark-registration/
[12] Xem
them Lockridge và Wattmire.

No comments:
Post a Comment